Trang chủ 19. Trắc nghiệm - Kế toán - Đề số 19





Một định khoản phức tạp không thể tách thành nhiều định khoản giản đơn.

Hạch toán kế toán chỉ sử dụng thước đo tiền tệ.


Hạch toán thống kê không sử dụng thước đo giá trị.

Số dư cuối kỳ của Tài khoản "Hao mòn tài sản cố định" được phản ánh ở bên Nợ trong cột "Số dư cuối kỳ" của Bảng cân đối tài khoản.


Số dư cuối kỳ của Tài khoản "Hao mòn tài sản cố định" được phản ánh ở bên Có trong cột "Số dư cuối kỳ" của Bảng cân đối tài khoản.


Số dư bên Có của tài khoản "Thanh toán với người mua" được phản ánh ở bên "Tài sản" của Bảng cân đối kế toán.


Số dư bên Có của tài khoản "Thanh toán với người mua" được phản ánh ở bên "Nguồn vốn" của Bảng cân đối kế toán.


Số dư bên Nợ của tài khoản "Thanh toán với người bán" được phản ánh ở bên "Tài sản" của Bảng cân đối kế toán.


Số dư bên Nợ của tài khoản "Thanh toán với người bán" được phản ánh ở bên "Nguồn vốn" của Bảng cân đối kế toán.


Tài khoản "Doanh thu bán hàng" là tài khoản điều chỉnh trong hệ thống tài khoản kế toán.


Các tài khoản phản ánh chi phí hoạt động của đơn vị kế toán là tài khoản cơ bản trong hệ thống tài khoản kế toán.


Bên phải tài khoản Nguồn vốn là bên Có, ngược lại, bên phải tài khoản Tài sản là bên Nợ.


Các tài khoản điều chỉnh không có số dư cuối kì.


Tài khoản theo dõi chi phí sản xuất kinh doanh ghi tăng bên Nợ và luôn có số dư bên Nợ.


Tài khoản theo dõi Doanh thu phải có kết cấu ngược với tài khoản theo dõi Tài sản.


Tất cả các định khoản kế toán đều phải liên quan đến từ 2 tài khoản trở lên.


Không có định khoản kế toán nào chỉ ghi Có duy nhất 1 tài khoản.


Cách ghi tăng, giảm trên các tài khoản theo dõi chi phí phải ngược với cách ghi tăng giảm trên các tài khoản phản ánh nguồn vốn chủ sở hữu.


Nghiệp vụ Chi phí phát sinh bằng tiền hay nợ phải trả không thuộc 1 trong 4 quan hệ đối ứng tài khoản.


Nghiệp vụ doanh thu, thu nhập phát sinh bằng tiền hay nợ phải thu thuộc 1 trong 4 quan hệ đối ứng tài khoản.