Trang chủ 66. Trắc nghiệm - Kế toán - Đề số 66





Vốn điều lệ và vốn thực góp bao giờ cũng bằng nhau.


Trong trường hợp vốn điều lệ lớn hơn vốn thực góp thì trách nhiệm của DN đối với các khoản nợ phải trả và các nghĩa vụ tài chính khác vẫn tính trên số vốn điều lệ.

Nguồn vốn kinh doanh và vốn điều lệ là 2 chỉ tiêu hoàn toàn khác nhau.

Doanh nghiệp nhà nước vẫn phải trích tiền thu về sử dụng vốn ngân sách nhưng không phải nộp vào kho bạc nhà nước.


Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm được trích từ lợi nhuận sau thuế thu nhập DN.

Giá trị tài sản được biếu, tặng, viện trợ được ghi tăng trực tiếp nguồn vốn kinh doanh.

Công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có thể tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu.

Vốn điều lệ của DN là vốn được ghi trong Điều lệ của DN.

Chủ sở hữu DN chỉ được rút vốn sau khi đã làm các thủ tục giảm vốn điều lệ nhưng vẫn phải đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả của DN.

Chủ sở hữu có quyền quyết định điều chỉnh tăng hoặc giảm vốn điều lệ của DN.

Việc trích lập các khoản dự phòng: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá đầu tài chính là một trong các biện pháp nhằm bảo toàn vốn của DN.

Thời gian chuyển lỗ tối đa của DN theo quy định là 5 năm.

Các khoản bị phạt do vi phạm các quy định của Nhà nước và hợp đồng kinh tế được tính trừ vào lợi nhuận trước thuế thu nhập của DN.

Quỹ dự phòng tài chính được khống chế tối đa là 25% vốn điều lệ của DN.

Quỹ đầu tư phát triễn không được dùng để bổ sung vốn điều lệ của DN.

Công ty hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ phải trả và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty.

Thành viên góp vốn trong công ty hợp danh chịu trách nhiệm về các khoản nợ phải trả và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ.

Nếu thành viên chưa góp đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty.

Nguồn vốn kinh doanh trong các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần bao gồm: Vốn góp, thặng dư vốn và vốn khác.

Các thành viên công ty TNHH và cổ đông của công ty cổ phần có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho tổ chức, cá nhân khác.